Bất Động Sản

Có được tặng, cho quyền sử dụng đất khi chưa có giấy chứng nhận?

Chào luật sư, tôi là Mai Anh. Hiện tôi đang có 1 vấn đề cân đến sự giải đáp của luật sư. Cụ thể, cha mẹ tôi có cho tôi 1 lô đất, nhưng khu đất tôi đang ở là ông bà ở từ năm 1972 đến nay.

Hiện khu đất chưa được cấp sổ đỏ, vậy khi cha mẹ cho tôi đất thì tôi có thể làm vi bằng được không? Tôi chỉ muốn chứng nhận lô đất đó là cha mẹ cho riêng tôi, không liên quan gì đến bất cứ thành viên nào. Và bởi thế khi có tranh chấp tôi cần các pháp lý gì nữa?

Trịnh Mai Anh – Hoài Đức, Hà Nội

Có được tặng, cho quyền sử dụng đất khi chưa có giấy chứng nhận?

Luật sư Nguyễn Thanh Hà

Bạn Mai Anh thân mến!

Về câu hỏi trên, Kinh tế & Đô thị đã mời luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB Law trả lời cụ thể cho khách hàng.

Thứ nhất, về điều kiện tặng, cho quyền sử dụng đất. Căn cứ quy định ở Khoản 1 điều 188 Luật đất đai 2013 thì 1 trong các điều kiện để thực hiện chuyển nhượng tặng cho quyền sử dụng đất là: Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp nhận thừa kế. Như vậy, chỉ khi bố mẹ khách hàng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối có thửa đất đó, bố mẹ khách hàng mới có quyền tặng cho quyền sử dụng cho khách hàng. Việc bố mẹ tặng cho đất khi chưa có giấy chứng nhận dưới mọi hình thức chuyển nhượng đều không hợp pháp và không chắc chắn ích lợi cho khách hàng đặc thù là trong trường hợp xảy ra tranh chấp.

Thứ hai, về việc lập vi bằng, theo quy định ở Khoản 1, điều 2 Nghị định 135/2013 NĐ-CP tổ chức vận hành Thừa phát lại thí điểm ở Thành Phố Hồ Chí Minh: “Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác.”

Như vậy, vi bằng chỉ ghi nhận các sự kiện, hành vi mà Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, làm chứng cứ cho các chuyển nhượng dân sự khác chứ không thay thế các chuyển nhượng dân sự. Tức là khi không đủ điều kiện thực hiện chuyển nhượng tặng cho quyền sử dụng đất, việc lập vi bằng không có giá trị xác lập chuyển nhượng tặng cho quyền sử dụng đất.

Thứ ba về việc xác định người có quyền sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo thông tin khách hàng cung cấp, lý do sử dụng đất là của ông bà khách hàng ở từ năm 1972. Ông bà khách hàng đã chết nên về nguyên tắc nếu còn trong thời hạn phân chia di sản thừa kế, mảnh đất này được phân chia cho các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông bà khách hàng. Bố mẹ khách hàng không được toàn quyền định đoạt có thửa đất này.

Theo khoản 1 điều 651 Bộ luật dân sự 2015, hàng thừa kế thứ nhất của ông bà khách hàng bao gồm: “a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;” Nếu còn trong thời hạn phân chia di sản thừa kế, hoàn toàn có khả năng các người con khác của ông bà khách hàng khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế để xác lập quyền có có thửa đất trên.

Do khách hàng chưa đề cập thời điểm ông bà chết để xác định thời hạn phân chia di sản thừa kế. Nên nếu hết thời hạn phân chia di sản thừa kế thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó theo quy định ở khoản 1 điều 623 Bộ luật dân sự 2015:

“1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối có nhà đất, 10 năm đối có động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó….”

Tức là sau 30 năm kể từ thời điểm ông bà khách hàng chết, bố mẹ khách hàng đủ điều kiện xác lập quyền có đối có thửa đất đang quản lý và sử dụng đó. Và trong trường hợp này, gia đình khách hàng cần phải tiến hành thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận có mảnh đất này để tiến hành thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất.

Các khách hàng đang xem chuyên mục bat dong san quyhoach.net của https://quyhoach.net

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Close